Một chút suy tư về Phẩm hạnh
“Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”
Mới đâu đó, tôi còn là một đứa trẻ ngồi trên chiếc ghế nhựa giữa sân trường rợp bóng cây nơi vùng cao nguyên đất đỏ bazan. Trong những giờ chào cờ trang nghiêm, mắt tôi luôn đổ dồn và ngẫm nghĩ về bức biểu ngữ lớn treo trên mái hiên của toà nhà trước mặt: “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”. Ngày ấy, tôi yêu vô cùng những bài học đạo đức, những tấm băng rôn rực rỡ khắp sân trường. Những bài học như kính trọng, trung thực, trách nhiệm, chăm chỉ... hiện lên trong tâm trí non nớt của tôi như những nét đẹp vĩnh cửu, thách thức mọi sự tàn phai của thời gian.
Thế nhưng, khi bước chân ra khỏi cánh cổng trường để hòa mình vào dòng đời, tôi ngỡ ngàng nhận ra những điều mình hiểu biết chẳng thấm tháp vào đâu, chỉ như hạt bụi giữa vũ trụ bao la. Đứng giữa một “rừng” giá trị hỗn độn của xã hội, tôi ngơ ngác như một đứa trẻ lạc đường. Tôi bối rối phân định giữa thiện và ác, tựa như Adam và Eva vừa nếm trải trái cấm nơi vườn địa đàng. Những gì được học dường như vẫn ngủ yên trên trang sách; còn ngoài đời thực, số người tôi gặp thực sự sống đúng với những phẩm hạnh ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Tôi bắt đầu hoài nghi: “Cái Thiện thực chất là gì? Cái Ác là gì?”. Tại sao chúng ta luôn khao khát đến gần người thiện và xa lánh kẻ ác, ngay cả khi chính ta còn chẳng thể phân định rõ ràng thế nào là một hành vi thiện, ác? Những phẩm tính đạo đức được giảng dạy ở trường có thực sự là điều tốt lành? Nếu có, tại sao lại ít người tiếp thu được đến thế? Tôi từng rơi vào hụt hẫng tột cùng khi nghe người khác dạy tôi: "Trong công việc và cuộc sống, trung thực chính là sự ngây thơ". Người ta sẵn sàng đổi trắng thay đen, lập lờ thiện ác chỉ vì hoặc là lợi ích cá nhân, hoặc là lợi ích phe nhóm mà họ thuộc về. Cả một thời tuổi trẻ, tôi như kẻ mù lạc trong vùng sa mạc khô cằn của xã hội. Sự thiếu hiểu biết sâu sắc về những phẩm tính này đã đẩy tôi vào vô số hệ lụy, nuôi dưỡng trong tôi những cảm xúc chán nản, nóng nảy và đầy oán hận.
Dần dần, khi va vấp nhiều hơn, tôi nhận ra một sự thật trần trụi: mọi ý nghĩ, lời nói và hành vi của mình thực chất đều chỉ để bảo vệ cái thân xác này. Tôi lao vào làm việc, kiếm tiền, chi trả cho những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, rồi mưu cầu sự tiện nghi như bao người khác. Tôi thiết lập cuộc sống của mình dựa trên năm tầng tháp nhu cầu của Maslow. Thế nhưng, chính những tiện nghi ấy, những tầng tháp ấy lại vô tình trở thành một chiếc lồng giam vô hình. Chúng nuôi dưỡng nỗi sợ hãi trong tôi lớn dần lên, khi tôi cứ mãi dùng vật chất và tinh thần bên ngoài để cố bọc lót cho sự an toàn của thể xác. Tại sao chỉ là thân xác mà không bao gồm cảm xúc và tinh thần?! Vì có thân xác này tôi mới cảm nhận và nhận thức được thế giới bên ngoài lẫn bên trong.
Tôi chợt nhận ra thân xác vừa là nguồn gốc của tội lỗi, nhưng cũng đồng thời là cội nguồn của điều thiện lành. Khi tâm trí hướng vào cái "tôi", nó sinh ra ích kỷ; còn khi hướng ra ngoài, nó mới mang lại phước lành. Trước đây, tôi cố bao bọc bản thân bằng những món đồ lấp lánh, những tiện nghi xa hoa và một nơi ở an toàn để khỏa lấp nỗi sợ bên trong. Để rồi, chỉ cần một ai đó vô tình chạm vào, tôi lập tức nổi giận. Đó chính là lúc tâm trí tôi hoàn toàn bị giam cầm trong ngục tù của cái "tôi" vị kỷ.
Để thoát khỏi chiếc lồng ấy, tôi tìm đến tôn giáo, hướng về các vị tu sĩ như loài cây vươn tìm ánh sáng. Tôi ngưỡng mộ, yêu thích những phẩm hạnh cao đẹp ở họ, rồi vô thức tìm kiếm hình bóng ấy ở tất cả những người mình gặp. Đôi lúc, lòng ngưỡng mộ bước qua ranh giới của sự cực đoan, biến thành sự thần thánh hóa. Nhưng rồi, tôi nhìn thấy những người Pharisee trong cuộc đời, và giật mình nhận ra chính mình cũng là một trong số họ. Tôi nghiêm cẩn tuân theo giới luật rồi tự mãn rằng mình thật đức hạnh. Tôi nhìn những người không giữ giới bằng ánh mắt coi thường, xem họ là những kẻ tội lỗi, hạ đẳng và chủ động né tránh vì sợ họ làm “vấy bẩn” sự thanh cao của mình. Lúc bấy giờ, giới luật và giáo lý không còn là phương tiện tu tập, mà đã biến thành một loại “sự tiện nghi tâm linh”. Tôi tức giận, căm ghét những ai không làm theo điều thiện, không nói lời chân thật, không ăn chay hay hành trì giáo lý. Ngay cả khi tôi làm việc thiện, bố thí cho người nghèo hay cứu giúp động vật, bản chất vẫn là một cuộc mua bán mưu cầu phước báu cho kiếp sau, để vào nước trời sau khi chết.
Tôi đã nhân danh cái Thiện, nhân danh tôn giáo và lẽ phải để phục vụ cho sự an toàn của chính mình. Tôi liên tưởng đến nhân vật Rodion Raskolnikov trong kiệt tác “Tội ác và hình phạt” của Dostoevsky. Nhân danh một lý tưởng cao đẹp tự huyễn hoặc, người ta có thể nhẫn tâm thực hiện những hành vi tàn bạo mà vẫn đinh ninh mình đang hành đạo. Những đức tin cực đoan ấy nguy hiểm chẳng kém gì tư tưởng của các tổ chức khủng bố. Bấy giờ tôi mới hiểu, vì sao trong các cuốn sách huyền môn lại đưa ra lời cảnh báo đầy nghiêm khắc: Trước mặt những người đức hạnh luôn là vực sâu. Bởi khi một người tự nhận mình là đức hạnh và sa ngã, họ sẽ rơi tự do mà không có một cái phanh nào giữ lại. Một đoạn trích trong cuốn “Light on the Path”, Mabel Collins:
“Hỡi đệ tử, con hãy nhớ rằng cái hố giữa người đức hạnh và kẻ tội lỗi tuy lớn, nhưng giữa kẻ đức hạnh và người đã đến bờ giác thì sự phân cách còn rộng lớn hơn nhiều, và giữa người đức hạnh và người ở ngưỡng cửa thiêng liêng thì sự phân cách thật là không bờ bến. Vì thế, con nên thận trọng, nếu không, con tưởng con đã vượt lên khỏi quần chúng.”
Khi những biến động cuộc đời ập đến, đặt ta vào lằn ranh sinh tồn phi đạo đức và nhân tính, những phẩm hạnh mà ta từng tự hào gán cho bản thân bỗng chốc tan biến như bọt biển. Sự sụp đổ ấy không diễn ra ở bên ngoài, mà nó tan vỡ ngay từ cốt lõi bên trong. Khi mất niềm tin vào tôn giáo, con người ta rất dễ trượt dài vào con đường lầm lỗi. Trải nghiệm cá nhân và vô số câu chuyện đời thực đã minh chứng cho tôi thấy: một niềm tin vay mượn từ hệ thống bên ngoài sẽ không bao giờ bền vững.
Tôi chợt hiểu ra, những phẩm tính tốt đẹp biểu lộ ra là khi ta vượt qua bản năng thấp thỏi của chính mình – vốn được vận hành bởi nỗi sợ. Vì vậy, những đức hạnh đó không phải là thước đo để soi xét thế giới khách quan, mà là tấm gương để phản chiếu thế giới nội tâm. Khi ta tự tay nắm lấy chiếc chìa khóa niềm tin của chính mình, không trao nó cho bất kỳ một tôn giáo, một giáo lý hay một bóng hình thần tượng nào khác, đó là lúc ta thực sự làm chủ điều thiện lành trong bản thân.
Tôi tự hỏi: “Tại sao điều tốt lành, lẽ phải và cái thiện luôn được ca ngợi, còn cái ác, cái xấu xa thì không?”. Thực ra, hướng thiện là một điều tất yếu mang tính tự nhiên của vũ trụ. Ta sẽ không hỏi vì sao ta phải thở, vì sao cây phải vươn về phía ánh sáng, hay vì sao ta tồn tại. Mọi sự mâu thuẫn, tranh đấu trong tâm trí thực chất chỉ là tiếng khóc của những cảm xúc chưa được đong đầy. Khi nội tâm được tưới tẩm bởi sự mát mẻ, ấm áp của tình yêu thương, những câu hỏi mang tính nhị nguyên ấy tự khắc sẽ biến mất.
Tôi bắt đầu học cách giữ chiếc chìa khóa ấy trong tay mình qua những bài học thực tế nhất. Chẳng hạn như chuyện bán hàng, trước đây khi gặp phải những vị khách "boom" hàng, tôi sẽ vô cùng tức giận. Sự tổn thương đó khiến tôi đề phòng và không còn nhiệt tình với những người khách tiếp theo. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra: Tại sao mình lại đánh mất sự nhiệt huyết vốn có của bản thân vì những người đó? Tương tự, lời nói dối, sự tham lam, những lời chỉ trích hay phán xét; trước sự thiếu trung thành, những lời tâng bốc giả tạo, sự thương hại hay lòng ngưỡng mộ cực đoan; và thậm chí là cả trước lòng ghen tị lẫn lòng vị tha… Kiên trì tập luyện từ những việc nhỏ nhặt như thế, tôi dần học được cách giữ tâm mình bình thản trước những điều bất như ý luân chuyển bên ngoài.
Nhưng, cần luôn luôn cảnh giác, vì giây phút ta không vượt qua nỗi sợ thì thay vì chìa khoá của sự tự do, nó biến thành chìa khoá bảo vệ chính niềm tin đó và lại hoá thành một nhà tù ngăn cách ta và thế giới bên ngoài. Vì vậy, mỗi ngày, tôi thì thầm với chính mình: “Hãy luyện tập tâm trí từ từ, đừng vội vàng!”
Em thân mến,
ReplyDeleteChị đã đọc bài của em. Trước hết chị rất trân trọng bài viết này, nhất là sự thành thật khi em không chỉ nhìn vào những vấn đề của xã hội hay tôn giáo mà quay lại quan sát chính mình. Chị nghĩ khả năng nhận ra rằng ngay cả việc “làm điều thiện” cũng có thể bị cái tôi sử dụng để tạo cảm giác an toàn, ưu việt hay tích lũy phước báu là một nhận thức rất đáng quý.
Chị có vài suy nghĩ để em tham khảo nhé. Không nhất thiết chị đúng, em cứ giữ lại điều nào cộng hưởng với mình.
Điểm đầu tiên là câu: “Thân xác vừa là nguồn gốc của tội lỗi, nhưng cũng đồng thời là cội nguồn của điều thiện lành.” Chị sẽ cẩn thận với kết luận này. Theo chị, thân xác tự nó không thiện cũng không ác. Nó là phương tiện để sự sống và ý thức biểu hiện trong thế giới vật chất. Những bản năng sinh tồn của cơ thể cũng không phải điều “thấp kém” cần bị loại bỏ; chúng cần được nhận biết, giáo dục và tích hợp vào một đời sống rộng lớn hơn.
Tương tự, câu “Khi tâm trí hướng vào cái tôi, nó sinh ra ích kỷ; còn khi hướng ra ngoài, nó mới mang lại phước lành” có lẽ cũng có thể mở rộng thêm. Hướng vào bên trong không nhất thiết là ích kỷ. Có một sự chăm sóc bản thân lành mạnh, một khả năng hiểu mình và thiết lập ranh giới, mà nếu thiếu chúng thì đôi khi việc “hướng ra ngoài” lại trở thành hy sinh bản thân, tìm kiếm sự công nhận hoặc một hình thức khác của cái tôi. Có lẽ vấn đề không nằm ở hướng vào trong hay hướng ra ngoài, mà ở phạm vi của sự đồng nhất: ta chỉ thấy lợi ích của riêng mình, hay ngày càng nhận ra mình thuộc về một mạng lưới sự sống lớn hơn?
Chị cũng rất thích ý của em rằng phẩm hạnh không nên trở thành thước đo để phán xét người khác. Nhưng chị nghĩ có thể đi thêm một bước: phẩm hạnh không chỉ xuất hiện khi ta “vượt qua bản năng thấp thỏi vốn được vận hành bởi nỗi sợ”. Con người còn có vô thức, tổn thương, điều kiện xã hội, nhu cầu thuộc về nhóm, ham muốn quyền lực, sự thiếu hiểu biết… Và sâu hơn nữa, phẩm hạnh có thể không chỉ là kết quả của việc chống lại cái thấp, mà là kết quả tự nhiên khi nhận thức, tình thương và khả năng thấy người khác như chính mình được mở rộng.
Có một điểm nữa chị nghĩ rất quan trọng. Em viết rất hay về việc lấy lại “chiếc chìa khóa niềm tin” từ tôn giáo, giáo lý và thần tượng. Chị đồng ý với tinh thần tự chủ ấy. Tuy nhiên, chị sẽ phân biệt giữa thoát khỏi sự lệ thuộc vào thẩm quyền bên ngoài và cho rằng bản thân mình là thẩm quyền cuối cùng về thiện–ác. Bởi cái tôi cũng có khả năng tự hợp lý hóa rất tinh vi.
Vì vậy, có lẽ trưởng thành đạo đức nằm ở một con đường Trung Đạo: không mù quáng trao lương tri cho giáo điều bên ngoài, nhưng cũng không tuyệt đối hóa cảm nhận chủ quan của bản thân. Ta liên tục kiểm nghiệm mình bằng sự thật, hậu quả của hành động, khả năng gây tổn thương, lòng từ bi, và sự thành thật với những động cơ sâu kín của chính mình.
Chị đặc biệt thích đoạn cuối khi em trở lại với những việc rất nhỏ như cách mình phản ứng với khách boom hàng. Phẩm hạnh cuối cùng không nằm ở việc ta có thể định nghĩa cái Thiện đẹp đến đâu, mà ở ta trở thành người như thế nào trong những khoảnh khắc rất bình thường khi không ai quan sát mình.
Và có lẽ chị sẽ thay một chút câu hỏi trung tâm của bài. Thay vì chỉ hỏi: “Cái Thiện là gì?”
mình có thể hỏi thêm:
“Điều gì khiến một phẩm hạnh từ một quy tắc bên ngoài dần trở thành một phẩm chất sống tự nhiên bên trong con người?”
DeleteEm cảm ơn chị Dương. Câu hỏi gợi mở cuối của chị Dương rất hay. Đây cũng là trọng tâm em đã suy ngẫm khi viết bài này.
Có một buổi tối em ngồi thiền trong một trạng thái mà tâm trí, cảm xúc, tinh thần lúc đó rất căng, cực kì căng (vì em không ngủ được sau nhiều đêm nên đã dùng ít bia rượu). Sau đó, em cố gắng xoay xoay cục Rubik trước mặt, cố gắng sắp xếp lại trật tự màu sắc của nó. Nhưng bước cuối cùng để hoàn tất, em không thể nhớ ra. Em đã vặn mãi và bất lực trước bản thân là bước cuối cùng, bước đơn giản nhất nhưng lại không thể hoàn thành. Mãi sau này, em mới nhận ra bước cuối cùng đó là gì. Khi mình bắt đầu cảm nhận và thôi quan sát, phân tích về tư tưởng, cảm xúc của bản thân đang là gì. Và rồi em nhận ra tâm trí, cảm xúc của mình có sự kết nối với người bên ngoài. Em cố gắng phân tích, lý giải, tìm bằng chứng phủ nhận sự kết nối kì lạ này, nhưng không thể. Mặt khác, cũng không thể ngó lơ được những gì mình cảm nhận, trực giác quá nhạy về người kia. Khi đó, em chấp nhận rằng nó có tồn tại, và tâm thức chúng ta có thể đồng nhất với nhau. Ngay lúc đó, phẩm hạnh nó đến rất tự nhiên, trở thành một cái gì đó rất tự nhiên bên trong mình. Việc mình kỷ luật tâm trí, cảm xúc hướng tới điều thiện lành nó không còn là sự “tự ép buộc” bản thân mà mình muốn làm vậy vì điều thiện lành, cái đẹp, một điều gì đó mà nếu mình làm khác đi, làm xấu đi thì nó gây ảnh hưởng đến tâm thức chung, nó mang lại sự xáo trộn, biến động. Vốn dĩ, cuộc sống đã rất nhiều điều khó khăn rồi, ta không nên làm cho nó khó chịu thêm. Đôi khi, em có thể gọi tên đó là tình yêu, nhưng nó cũng không hẳn là vậy vì nó không cần đối tượng. Nó như một dòng chảy mà khi mình bắt đầu cảm nhận, mình tự nhiên thấy đủ đầy bên trong. Một kiểu trạng thái mà khi mình đã bước vào thì không quay lại trạng thái trước được.
"Đôi khi, em có thể gọi tên đó là tình yêu, nhưng nó cũng không hẳn là vậy vì nó không cần đối tượng. Nó như một dòng chảy mà khi mình bắt đầu cảm nhận, mình tự nhiên thấy đủ đầy bên trong." Yeah! Hoàn toàn đồng ý với em nè! Mọi điều tốt lành nhất em nhé! Thương mến. <3
Delete